Kiến thức OKRs

Khái niệm KRs – Kết quả then chốt là gì?

admin
 - Tháng Tư 6, 2020

Kết quả then chốt là một yếu tố quan trọng thường xuyên được nhắc đến khi áp dụng OKRs. Phần lớn các doanh nghiệp khi lần đầu tiên thực hiện OKRs đều mắc nhiều lỗi khi viết các Key Results dẫn đến việc áp dụng OKRs nhưng hoàn toàn không đạt được mục tiêu nào

Vậy kết quả then chốt là gì? Tiêu chí nào để xác định đây là Key Result khả thi hướng đến mục tiêu?. Trong bài viết dưới đây VNOKRs sẽ giải đáp những thắc mắc này và giúp các doanh nghiệp hiểu chính xác nhất về kết quả then chốt.

1. Kết quả then chốt là gì – theo chuẩn lý thuyết quốc tế.

OKRs là phương pháp quản trị bằng Mục tiêu (Objective) và các Kết quả then chốt (Key Results). Được sinh ra và áp dụng lần đầu tiên bởi Andy Grove tại Intel vào giữa những năm 1970. 

Với những ưu điểm và thành tựu mà OKRs mang lại, hiện tại OKRs đã và đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều công ty nổi tiếng trên thế giới như Google, AOL, Dropbox, LinkedIn, Oracle, Twitter…

(Tìm hiểu thêm về OKRs là gì?Lịch sử của OKRs)

Cấu trúc của OKRs bao gồm:

  • O – Objective – Mục tiêu
  • KRs – Key Results – Các Kết quả then chốt.

Trong đó:

  • Objective (O): Là đích đến, nơi bạn muốn đến, điều bạn muốn đạt được. Thường được trả lời thông qua câu hỏi “Bạn muốn đi đâu?” 
  • Key Results (KRs): Theo John Doerr, Kết quả then chốt là tiêu chuẩn và đo lường làm thế nào chúng ta đạt được mục tiêu. Bạn có thể hiểu đây là tập hợp các giá trị, kết quả chứng minh rằng bạn đã đến đích.

“Kết quả then chốt là các yếu tố đo lường được, giúp xác định và thúc đẩy mục tiêu của bạn về phía trước.”

muc-tieu-và-ket-qua-then-chot

OKRs – Nơi bạn muốn đến và Kết quả chứng minh bạn đã đên đích.

2. Mục đích của kết quả then chốt

Một kết quả then chốt là một thước đo định lượng Mục tiêu của bạn. Mục tiêu là điều chúng ta muốn đạt được, ngắn gọn, truyền cảm hứng và định tính. kết quả then chốt giúp cho mục tiêu trở nên cụ thể và có thể đo lường được (Định lượng). 

Ví dụ: 

Mục tiêu của tổ chức là “Ra mắt thành công phần mềm VNOKRs trong 90 ngày tới”. Tổ chức của bạn cấu thành bởi tập hợp nhiều bộ phận và nhiều nhóm người với những đặc thù tính cách khác nhau, mỗi cá nhân trong tổ chức đều có ý tưởng riêng của họ về việc đạt được mục tiêu là gì. 

  • Đó có phải là DAU (Daily Active Users – tổng số người truy cập và tương tác trong ngày) không? 
  • Nó có phải là NPS (Net Promoter Score – Chỉ số đo lường sự hài lòng) không? 
  • Nó có phải là chuyển đổi không? 
  • Có phải cả ba không?

Vì vậy bạn cần phải giúp cho mục tiêu trở nên cụ thể và tất cả mọi người đều hiểu đúng về cách đạt được mục tiêu. Nếu không, có thể mọi người chỉ hiểu đơn giản “ra mắt thành công” nghĩa là phần mềm chạy được. 

Nếu không có các Key Results thì Objective sẽ mơ hồ và không đo lường được, không đánh giá được quá trình tiến tới Mục tiêu.

o
Ra mắt thành công phần mềm VNOKRs.
kr1
Đạt 1.000 lượt truy cập trung bình hàng ngày.
kr2
Tỷ lệ hài lòng của khách hàng đạt 90%
kr3
Tỷ lệ chuyển đổi đạt 30%.

ket-qua-then-chot-la-gi


Key Results giống như những cột mốc, được đặt ra để xác định được bạn đã đạt được gì và thúc đẩy bạn tiếp tục hoàn thành mục tiêu.

3. Các loại kết quả then chốt.

Phân loại Kết quả then chốt theo John Doerr

Theo John Doerr kết quả chính của bạn thường sẽ phù hợp với một trong ba loại: Input, OutputOutcome.

Bạn có thể nghĩ ra Kết quả chính theo từng cách này, sau đó chọn cách tốt nhất cho nhu cầu hiện tại của bạn. Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng bạn đang đưa ra những kết quả then chốt phù hợp nhất và đo lường chính xác nhất tiến độ đạt được Mục tiêu của bạn.

Input – Đầu vào

Kết quả then chốt Input là những thứ mà bạn có thể kiểm soát.

Số lượng cửa hàng mở, khởi chạy lại trang web của công ty, giảm chi phí nguyên vật liệu một thành phần được sản xuất – tất cả đều là Input (Đầu vào).

Ví dụ 1: Để tăng trưởng danh tiếng của công ty, hãy đi phát 10.000 tờ rơi.
Ví dụ 2: Để khách hàng đánh giá cao dịch vụ của chúng ta, hãy Thử nghiệm ba chiến dịch Marketing để gia hạn người đăng ký sử dụng phần mềm của chúng tôi.

Một số nhà lãnh đạo tập trung vào Input – Đầu vào. Họ tin rằng nếu các giá trị đầu vào phù hợp được vận dụng, các Kết quả mong muốn sẽ được xảy ra.

Output – Đầu ra

Kết quả then chốt Output (Đầu ra) là kết quả của đầu vào (Input).

Tăng doanh thu bán hàng, đạt đến tiêu chuẩn hiệu suất hoặc thu hút một số lượng người tham dự hội nghị nhất định – đây là những Kết quả then chốt Output (Đầu ra).

Ví dụ 1: Để tăng trưởng danh tiếng của công ty, hãy có 5000 người biết đến công ty của bạn.
Ví dụ 2: Để khách hàng đánh giá cao dịch vụ của chúng ta, hãy Đạt tỷ lệ đăng ký sử dụng phần mềm trên 60%.

Key Result Output làm giảm nguy cơ các kết quả then chốt của bạn trông giống như một danh sách nhiệm vụ. Một kết quả then chốt Output (Đầu ra) hiệu quả sẽ nhúng các hành động vào bên trong.

Ví dụ: Để có 5000 người biết đến công ty đồng nghĩa bạn phải có một số đầu vào nhất định như tình nguyện viên phát tờ rơi, số cuộc gọi điện thoại đến khách hàng…

Kết quả then chốt dưới dạng Đầu ra (Output) tạo ra những sự đo lường rõ ràng tiến trình đạt được mục tiêu.

Outcome – Kết quả

Key Result dưới dạng Outcome (Kết quả) là một cách nâng cao hơn Key Result dưới dạng Output (Đầu ra). Kết quả then chốt đầu ra (Output) có xu hướng tự mô tả kết quả cuối cùng mong muốn. Key Result Outcome thường nhấn mạnh “trước” và “sau” rõ ràng hơn là Input hoặc Output.

Để làm rõ, chúng ta hãy xem xét hai Ví dụ mục tiêu mẫu và Kết quả then chốt tiềm năng được thể hiện thông qua Key Result Input, Ouput và Outcome.

Mục tiêu: Tăng trưởng doanh số quý 1.

Key Result Input: Nhân viên phải phát 10.000 tờ rơi.
Key Result Output: Có được 5000 khách hàng mới.
Key Result Outcome: 5000 khách hàng mới phân bố đều trong 4 quận nội thành.

Mục tiêu: Khách hàng đánh giá cao dịch vụ của chúng tôi.

Key Result Input: Chạy ba chiến dịch tiếp thị nhằm mục đích gia hạn.
Key Result Output: Đạt được tỷ lệ gia hạn 60%.
Key Result Outcome: Tăng 10% tỷ lệ gia hạn.

Key Result Outcome thường phức tạp hơn Output. Việc tạo ra một Key Result Outcome tốt có thể đòi hỏi thêm thời gian để suy nghĩ tuy nhiên điều đó làm tăng cơ hội thành công của bạn với Mục tiêu.

Lưu ý: Mỗi OKRs cần thể hiện rõ ràng sự tiến bộ so với những gì bạn đang có hiện tại. Nếu KRs chỉ mô tả những gì bạn đang tạo ra  và giống với mô tả công việc, thì đó không phải là OKRs. Hãy thử viết lại nó!

Phân loại Kết quả then chốt theo Felipe Castro

Theo Felipe Castro đưa ra trong tài liệu “The Beginer’s Guide To OKRs” Kết quả chính được chia thành hai loại cơ bản.

Kết quả chính dựa trên hoạt động

Đây là những Kết quả chính đo lường việc hoàn thành các nhiệm vụ, đo lường hoạt động hoặc việc cung cấp các mốc quan trọng của một dự án.

Ví dụ về Kết quả chính dựa trên hoạt động là:

  • Phát hành phiên bản beta của sản phẩm.
  • Khởi chạy tab kiếm tiền.
  • Thiết kế một chương trình đào tạo mới.
  • Phát triển chiến dịch marketing mới.

Kết quả chính dựa trên hoạt động thường bắt đầu bằng các động từ như: khởi chạy, tạo, phát triển, phân phối, xây dựng, thực hiện, kiểm tra, chuẩn bị, lập kế hoạch…

Kết quả chính dựa trên giá trị

Kết quả chính dựa trên giá trị đo lường việc cung cấp giá trị cho tổ chức hoặc khách hàng của tổ chức. Key Result dạng này đo lường kết quả của các hoạt động thành công.

Ví dụ về Kết quả chính dựa trên Giá trị:

  • Cải thiện điểm số hài lòng của khách hàng từ X lên Y.
  • Tăng tỷ lệ mua lại từ X lên Y.
  • Duy trì chi phí chuyển đổi khách hàng theo Y.
  • Giảm tỷ lệ huỷ dịch vụ từ X% xuống Y%.
  • Tăng lưu lượng truy cập không phải trả tiền (Organic traffic) từ X lên Y.
  • Cải thiện mức độ tương tác của người dùng từ X đến Y.

Cấu trúc điển hình của Kết quả chính dựa trên giá trị là:

Tăng / Giảm chỉ số ABC từ X xuống Y

Trong đó:

X là đường cơ sở (nơi chúng ta bắt đầu) 

Y là mục tiêu (những gì chúng ta muốn đạt được).

Kết quả Chính dựa trên Giá trị không nhất thiết phải là thước đo cho mục tiêu cuối cùng của công ty (tức là doanh thu, lợi nhuận…), nhưng nó có thể là một thành phần của số liệu có mối tương quan với việc tạo ra giá trị.

Phân loại Kết quả then chốt theo Ben Lamorte và Paul Niven

Theo Ben LamortePaul Niven – 2 tác giả của cuốn sách Objectives & Key Results xuất bản năm 2016. Dựa trên các loại số liệu đánh giá đo lường, có thể chia Key Result thành 3 loại:

Key Result “Baseline metric”

  • Loại Key Result này thường xây dựng để “báo cáo, theo dõi”không có dữ liệu lịch sử.
  • Trong trường hợp này, việc đặt kết quả cuối cùng thường không bắt buộc phải chính xác.
  • Cho đến khi dữ liệu cơ sở được thiết lập, thì nên điều chỉnh Key Results cho phù hợp.

Ví dụ: Bộ phận Kế toán của VNOKRs trong giai đoạn đầu triển khai OKRs nhận ra rằng Chi phí Server (thiết bị lưu trữ dữ liệu website …) với mục tiêu “Giảm chi phí quản lý doanh nghiệp (G&A)”

Tuy nhiên, chi phí server biến động theo số người dùng thực tế công cụ VNOKRs mà trước đó chưa có số liệu lịch sử. Vì vậy cần có một Key Result: Báo cáo chi phí server hàng tuần, trong quý 4.

Hành động (Action) này không phải là một Giá trị (value), để tránh rủi ro phát sinh đột biến ảnh hưởng đến khả năng chi trả, chúng tôi đã lựa chọn giải pháp theo dõi và đo đếm hàng tuần, cho tới khi có số liệu rõ ràng hơn.

Key Result “Target metric”

Key Result này gồm 3 loại: Dương – Âm – Ngưỡng

  • [DƯƠNG] Key Result có số liệu mục tiêu tích cực – có ý nghĩa là “Càng nhiều càng tốt”

Ví dụ: 30 bài viết mới được đăng trên web blog.OKRs.vn trong tháng 11

Đối với Key Result dạng này, con số đạt được càng gần với con số mục tiêu đưa ra thì càng tốt. Loại Key Result liệu mục tiêu Dương được khuyến khích sử dụng vì nó mang tính tích cực khi thực hiện.

  • [ÂM] Key Result có số liệu mục tiêu tiêu cực – có ý nghĩa là “Càng ít thì càng tốt”.

Ví dụ: Chi phí doanh nghiệp ít hơn 1 tỷ.

Key Result dạng này thường được sử dụng cho các mục tiêu liên quan đến chi phí, tiêu hao nguyên vật liệu… Các kết quả then chốt dạng này thường mang tính chất tiêu cực và không khuyến khích sử dụng. Thay vào đó có thể viết lại Key Result theo hướng tích cực hơn:

Tiết kiệm chi phí 500 triệu so với tháng trước, từ 1.5 tỷ còn 1 tỷ.

Ngay cả khi bạn cố gắng gạt bỏ sự tiêu cực và muốn dùng Key Result số âm như vậy, việc chấm điểm (%) sẽ gặp khó khăn. Điều gì xảy ra nếu chi phí vượt lên thành 2 tỷ? Chúng ta sẽ chấm điểm tiến độ của Key Result này là 200% hay 0%?

  • [NGƯỠNG] Key Result có số liệu mục tiêu ngưỡng – kết quả then chốt “nằm trong phạm vi giá trị tối thiểu và tối đa có thể chấp nhận”

Ví dụ: Thời gian làm việc giữa bộ phận kỹ thuật và bộ phận chăm sóc khách hàng sau khi nhận được yêu cầu từ khách hàng là 2-4 ngày 

Đây là chỉ số mục tiêu ngưỡng. Nó chỉ định một giá trị số thấp có thể chấp nhận được và một giá trị số cao có thể chấp nhận được dùng làm ngưỡng để xác định phạm vi mục tiêu của chỉ số.

Key Result “Milestone”

Loại Key Result này thường không thể thiết lập được số liệu. Với loại Key Result này, chúng ta nên chia nhỏ các bước của kết quả để đạt được khả thi hơn.

Cần tránh nhầm lẫn giữa Key Result mang tính cột mốc và các nhiệm vụ, Key Result cột mốc mang tính chất tiến trình thực sự. Cần cập nhật các Key Result này thường xuyên để ghi nhận kết quả đạt được (1-2 tuần/ lần).

Ví dụ:

Objective: Hoàn thành mở việc mở rộng các chi nhánh.

Key Result: Khai trương chi nhánh tại Đà Nẵng với 5 nhân viên full-time có nhiệm vụ hỗ trợ khách hàng. 

Key Result này nên chia thành các bước nhỏ như sau:

  • Ký hợp đồng thuê 1 văn phòng với không gian phù hợp
  • Tuyển dụng thành công 5 nhân viên full-time có nhiệm vụ hỗ trợ khách hàng.

Không có công thức chung hoàn hảo cho việc bạn nên sử dụng theo loại Kết quả chính nào. Nhiều OKRs có sự kết hợp của nhiều loại Key Results khác nhau. Tuy nhiên, bạn cần phải hiểu rõ trong từng trường hợp cụ thể thì nên sử dụng loại Kết quả chính nào để giúp nhóm của bạn hiểu chính xác những gì họ cần làm để thành công.

4. Các tiêu chí để đánh giá kết quả then chốt tốt.

Kết quả then chốt là một kết quả. Không phải là một nhiệm vụ, không phải là một dự án, cũng không phải là một hành động hay việc cần làm.

Có sự ảnh hưởng lớn với mục tiêu: 

Kết quả then chốt là điều bạn cần đạt được để tiến tới mục tiêu. Một Key Result “không thực sự quan trọng” sẽ làm bạn mất tập trung. Bạn cần đặt ra câu hỏi khi viết bộ OKRs: “KR này có thực sự cần thiết không, nếu bỏ đi thì có ảnh hưởng đến OKRs không”.

Cụ thể

Các kết quả then chốt giúp định nghĩa mục tiêu, vì vậy kết quả then chốt phải cụ thể để tất cả mọi người đều có thể hiểu mục tiêu của bạn là gì.

Các Key Results cần được tập trung và có phạm vi xác định rõ ràng. Trong khi Key Result của công ty bao gồm các chỉ số rộng, Key Result của nhóm, của từng cá nhân phải đo lường tiến trình chi tiết hơn. 

Ví dụ như kết quả then chốt của công ty là về lợi nhuận, còn kết quả then chốt của nhóm, cá nhân cần cụ thể chi tiết hơn chẳng hạn như doanh số bán một sản phẩm cụ thể.

Đo lường và kiểm chứng được

Một kết quả then chốt tốt là phải đo lường và kiểm chứng được. Nếu Key Result không kiểm chứng được bạn sẽ không thể biết mục tiêu đã được hoàn thành hay chưa. Nếu không đo lường và kiểm chứng được đó không phải là một kết quả then chốt. 

Thách thức nhưng thực tế.

Kết quả then chốt phải có sự thách thức những vẫn phải thực tế để đạt được. Cũng giống như mục tiêu, nếu bạn đặt ra những Key Results quá thách thức mà không thực tế bạn sẽ không thể thực hiện được nó. Hệ quả là thay vì tạo ra động lực bạn sẽ gặp phải áp lực đối với những con số.

Hướng tới giá trị.

Kết quả then chốt tốt là phải đo lường giá trị đạt được chứ không phải đo lường mức độ hoàn thành công việc. Những Key Results hướng tới giá trị sẽ dễ dàng đo lường được chính xác mức độ hoàn thành mục tiêu, từ đó mà kiểm soát và đánh giá OKRs chính xác hơn.

Tại VNOKRs khi bắt đầu một chu kỳ mới và tất cả mọi người đã viết xong bộ OKRs của mình, đội OKRs Guard (những người canh giữ OKRs) của chúng tôi sẽ đánh giá từng OKRs. 

Để đảm bảo tất cả OKRs đều được viết tốt, chúng tôi sử dụng những biểu mẫu chấm điểm, đánh giá cho từng OKRs theo những tiêu chí như trong Template dưới đây.

template-check-list-okrs

Template đánh giá chấm điểm OKRs – VNOKRs

Những OKRs không đáp ứng đủ tiêu chí trong Template, đội OKRs Guard của chúng tôi sẽ có nhiệm vụ giúp đỡ và yêu cầu chủ sở hữu OKRs đó chỉnh sửa lại.

Ngay trong công cụ VNOKRs, các Mục tiêu cũng như kết quả then chốt cũng được đính kèm các tiêu chí để mỗi người dễ dàng xem xét lại trước khi nhập OKRs:

cong-cu-vnokrs-phan-mem-vnokrs

5. Cách viết Key Result đúng.

Key Result phải định lượng (chứa số).

Marissa Mayer (Chủ tịch và Tổng giám đốc tại Yahoo) có nói rằng: 

“Đó không phải là Key Result nếu không có con số đi kèm”

Nếu các Key Results không có con số đi kèm (không đo lường được) hoặc mặc dù có con số nhưng vẫn không thể đo lường được. Đồng nghĩa với việc Mục tiêu của bạn trở nên mơ hồ và không thể đánh giá được thế nào là mục tiêu đã hoàn thành.

o
Tăng trưởng danh tiếng quý 4.
kr1
Thêm 100.000 view trên Youtube.
kr2
Tăng 10.000 fan fanpage Facebook.
kr3
Tăng 20% truy cập từ SEO.

Việc viết Key Result không đo lường được (không chứa số) là một lỗi rất phổ biến trong các tổ chức mới bắt đầu áp dụng OKRs. Trong quý đầu tiên thực hiện OKRs của VNOKRs. Mặc dù đã có sự chuẩn bị chu đáo cho việc học tập OKRs, tuy nhiên nhân viên của chúng tôi cũng thường xuyên mắc phải lỗi này. 

Vì vậy để hạn chế những lỗi sai cơ bản khi viết Key Result. Chúng tôi đã đưa vào phần mềm VNOKRs một số quy tắc cứng. Bạn không thể nhập được Key Result nếu không chứa số (không đo lường được). Từ đó mà nhân viên của VNOKRs dần hình thành thói quen khi viết OKRs kết quả then chốt phải định lượng.

ket-qua-then-chot-phai-chua-so-phan-mem-vnokrs

Phần mềm VNOKRs

 

 

Kết quả then chốt phải dựa trên giá trị.

Công thức tiêu chuẩn trong cách viết OKRs của John Doerr như sau:

I will (Objective) as measured by (Key Results)

“Tôi sẽ đạt được (Mục tiêu) được đo bằng (các kết quả then chốt này).”

Hãy lưu ý, từ khoá quan trọng là “được đo bằng”. Các kết quả then chốt là những con số cho biết Mục tiêu của bạn đã đạt được, không phải các công việc cần làm.

Khi viết một Key Result bạn cần suy nghĩ rằng, nó có tạo ra giá trị gì để đo lường sự tiến bộ của mục tiêu hay không. Trong chu kỳ đầu tiên khi thực hiện OKRs, bạn sẽ nhận ra rằng có nhiều kết quả then chốt dựa trên hoạt động chứ không dựa trên giá trị. 

Điều này dễ dẫn đến việc, mặc dù bạn đã hoàn thành Key Results nhưng không đem lại được giá trị gì cho mục tiêu. Và khi hoàn thành hết tất cả Key Results mục tiêu vẫn không đạt được. Cùng phân tích ví dụ dưới đây để làm rõ hơn về vấn đề này.

o
Trở thành OKRs Master của VNOKRs.
kr1
Đọc hết 3 cuốn sách nổi tiếng về OKRs.
kr2
Hoàn thành khoá học Sức mạnh OKRs.
kr3
Trao đổi về OKRs với 3 CEO.

3 Key Results này đang đo lường mức độ hoàn thành của các công việc chứ không đo lường giá trị đạt được. Rủi ro ở đây là:

  • Đọc hết 3 cuốn sách nổi tiếng về OKRs => Bạn không nhớ được gì.
  • Hoàn thành khoá học Sức mạnh OKRs => Nhưng bạn chỉ đạt được điểm số trung bình.
  • Trao đổi về OKRs với 3 CEO => Sau khi trao đổi bạn vẫn không giúp họ hiểu được về OKRs.

Kết quả là: Bạn hoàn thành cả 3 Key Results nhưng bạn vẫn không thể trở thành OKRs Master.

Đối với mục tiêu này bạn có thể viết lại các Key Results dựa trên giá trị như sau:

o
Trở thành OKRs Master của VNOKRs.
kr1
Tạo ra 20 checklist học và làm OKRs sau khi đọc 3 cuốn sách nổi tiếng về OKRs.
kr2
Hoàn thành khoá học Sức mạnh OKRs với điểm số 90/100.
kr3
Giúp 3 CEO áp dụng OKRs thành công.

Viết Key Result dựa trên giá trị, bạn có thể dễ dàng đo lường được mức độ hoàn thành mục tiêu, từ đó mà kiểm soát và đánh giá OKRs chính xác hơn.

Chỉ nên có từ 3 đến 5 kết quả then chốt cho mỗi mục tiêu.

Giả sử bạn có 5 mục tiêu và mỗi mục tiêu bạn có 5 kết quả then chốt, bạn sẽ có tới 25 kết quả then chốt. Một chu kỳ OKRs điển hình sẽ có thời gian là 1 quý (3 tháng), như vậy trung bình mỗi tuần bạn phải hoàn thành 2 kết quả then chốt. Bạn có quá nhiều thứ phải làm.

Tất cả các tài liệu về OKRs của các chuyên gia trên thế giới đều khuyên rằng bạn chỉ nên có từ 3 đến 5 bộ OKRs trong một quý và từ 3 đến 5 KR cho mỗi mục tiêu. Bản thân VNOKRs trong mỗi chu kỳ cũng chỉ có 2 đến 3 Mục tiêu và mỗi mục tiêu có từ 3 đến 5 kết quả then chốt.

Điều này giúp cho bạn tập trung hơn vào OKRs. Nếu bạn quá dàn trải công việc, bạn sẽ rơi vào tình trạng làm quá nhiều và không thực sự hoàn thành công việc nào cả. Làm nhiều không có nghĩa là tốt, hoàn thành mục tiêu mới là điều chúng ta đang hướng tới.

Đối với mỗi mục tiêu không nhất thiết bạn bắt buộc phải có từ 3 đến 5 kết quả then chốt, bạn có thể có nhiều hơn hoặc ít hơn. Tuy nhiên bạn cần dành thời gian để suy nghĩ về thành công thực sự có ý nghĩa như thế nào. 

Đừng làm ít hơn hoặc nhiều hơn vì bạn lười biếng hoặc bạn thấy việc xác định kết quả then chốt tốt là quá khó. Hãy suy nghĩ kỹ và chọn các chỉ số phù hợp cần chú ý.

Kết quả then chốt cần có thời hạn cụ thể.

Khi viết kết quả then chốt bạn nên gắn với một mốc thời gian. Thời hạn cụ thể sẽ tạo ra sự thúc ép và tính cam kết.

o
Tăng trưởng danh tiếng công ty quý 4.
kr1
Thêm 100.000 view trên kênh Youtube trước 15/11.
kr2
Tăng 10.000 fan trên Fanpage công ty trước 15/12.
kr3
Tăng 20% truy cập từ SEO trước 30/12.

Bạn sẽ thấy áp lực hơn một chút khi thêm thời hạn vào mỗi kết quả then chốt. Bạn thuộc về một tổ chức, kết quả của bạn sẽ ảnh hưởng đến kết quả của người khác. Vì vậy bạn gần như không bao giờ có quyền “thoải mái về thời gian”. 

Nếu bạn không đưa mốc thời gian vào khi viết kết quả then chốt, mặc định thời hạn của kết quả then chốt đó sẽ là vào cuối chu kỳ

Kết luận,

Trên đây là những kiến thức từ các chuyên gia OKRs trên thế giới và kinh nghiệm thực tế của VNOKRs khi viết kết quả then chốt. Mong rằng bạn đã hiểu hơn về kết quả then chốt là gì, hiểu được cách viết đúng cùng cách đánh giá các Key Results tốt.

Tìm hiểu thêm các bài viết hay nhất về OKRs tại đây.

Bài viết của VNOKRs, vui lòng ghi nguồn khi trích dẫn.

Bài trước
Bài sau
Viết Bình luận